giỏ hàng
Giỏ hàng

Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế

Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế trong Kinh thành Huế là công trình kiến trúc quan trọng nhất của triều Nguyễn, là chứng tích tiêu biểu cho sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của mỹ thuật triều Nguyễn trên mảnh đất Cố đô trong thế kỷ XIX.
Có thể nói, trong lịch sử Việt Nam thời cận đại công trình xây dựng Kinh thành Huế có lẽ là một công trình đồ sộ, bề thế và quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ đắp thành; Để chuẩn bị cho công cuộc xây dựng Kinh thành, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đã phái quân mở đường sá, làm đất cát, sai Phạm Văn Nhân, Lê Chất và Nguyễn Văn Khiêm đốc trách, trông coi công việc. Việc mở rộng Kinh thành có ảnh hưởng đến đất ở và đất ruộng của nhân dân nên nhà vua đã phải thực hiện chính sách: “Dân cư tám xã Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bảo và Thế Lại, có ruộng đất bị mở vào thì theo giá văn tự trả tiền lại, nhà cửa thì mỗi hộ cấp 3 quan, uynh mộ thì mỗi ngôi 2 quan, còn nhân dân thì được miễn lao dịch. Lại thấy rằng một xã Phú Xuân, ruộng đất gần hết, dời dân xã ấy sang xã Vạn Xuân, cấp ruộng công đất công cho ở (đất công 3 khoảnh, ruộng công hơn 30 mẫu), lại cho vay tiền 1.000 quan để giúp cho việc chuyển dời”. Như vậy, vua Gia Long đã nghĩ đến việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng Kinh thành.
 
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế 
 
Tổng thể Di tích triều Nguyễn có niên đại không "già lắm" so với toàn bộ kiến trúc của dân tộc. Là một triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam (18021945), triều Nguyễn đã để lại cho chúng ta một di sản văn hóa khá đồ sộ về quy mô, loại hình di tích và chúng vẫn đang còn gắn bó với các nhân chứng sống. 
Sự thừa nhận di tích triều Nguyễn là di sản văn hóa nhân loại, đứng ngang hàng với các di tích có hàng nghìn năm tuổi trên thế giới đã gạt bỏ ý nghĩa tuổi tác để thừa nhận sự bình đẳng của các giá trị văn hoá nổi bật toàn cầu của mỗi dân tộc. Tuy công cuộc bảo tồn di tích Huế là một sự nghiệp đang còn rất mới mẻ nhưng cũng đã đạt được những thành tựu nổi bật căn bản bền vững cho sự phát triển chuẩn mực và đã được quốc tế thừa nhận. 
Lịch sử bảo tồn di tích Huế còn ghi nhận, mặc dầu Đạo luật về bảo vệ di tích từ những năm 1913 dưới thời kỳ Pháp thuộc đã được ban hành ở Việt Nam với danh sách xếp hạng các di tích do Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) đưa ra, nhưng cho đến năm 1945 vẫn không có danh mục di tích Huế, đó là điều hiển nhiên vì chúng vẫn đang còn là công trình được sử dụng thuộc sở hữu của triều đình. Mọi việc sửa chữa, thay đổi đều do triều đình, mà trực tiếp là bộ Lễ và bộ Công đảm nhận. Điều đó nói lên rằng một số công trình đã được xây dựng thời Gia Long, Minh Mạng và đến thời Khải Định, Bảo Đại còn ghi lại các dấu ấn về sửa chữa và cải tạo. Các dấu ấn này điều được xem xét phân tích khoa học với quan niệm là ₡nguyên gốc‛ để bảo tồn và tu bổ.     
Từ năm 1945 về sau, Huế được thừa nhận tư cách là di tích của dân tộc, song từ 1954 đến 1975 việc bảo tồn di tích này do viện Khảo cổ Sài Gòn và Phòng Bảo tàng Di tích Huế quản lý với việc trực tiếp sửa chữa, xây cất lại do Nguyễn Phước Tộc đảm trách. Ở giai đoạn này người ta đã làm biến dạng di tích Huế một cách trầm trọng (như việc xây lại Thế miếu), nhiều cấu trúc gỗ bị thay bằng bê tông cốt thép, các máng xối nguyên bằng đồng cũng được đúc bê tông; các mái ngói không được lợp bằng ngói thanh lưu ly và hoàng lưu ly; và đặc biệt phổ biến là sơn công nghiệp được quét lên các di tích có giá trị. Công tác làm hồ sơ khoa học và xây dựng cơ sở pháp lý cho di tích đều không được đề cập đến. Với tư cách là một chuyên gia của UNESCO từ năm 1971-1973, ông W.Morton Brown đã đề nghị những công việc cần thiết phải làm ở Huế phù hợp với công ước quốc tế về bảo tồn di tích, nhưng chính quyền Sài Gòn đã không thực hiện (báo cáo kỹ thuật của P.Pichard – UNESCO 1978). 
 
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế 
 
Giai đoạn 1975-1982 việc bảo tồn di tích Huế thuộc Sở văn hóa Bình - Trị - Thiên quản lý và Ban quản lý di tích cùng với Xí nghiệp tu sửa di tích thực hiện... Mặc dầu ở trong giai đoạn kinh tế khó khăn, song một số công việc cấp bách đã được tiến hành, chủ yếu tu bổ ở Ngọ Môn, hồ Kim Thủy, tu sửa cửa Hiển Nhơn và Hữu Vu... Với sự giúp đỡ bước đầu của UNESCO, một số lớn công trình đã được chống đỡ và lợp tạm bằng tôn kẽm. Ở giai đoạn này người ta chưa xem trọng các công tác như lập hồ sơ khoa học, thiết kế tu bổ... nên không ít các sai sót xảy ra. Việc phục chế ngói lợp thanh lưu ly, hoàng lưu ly chưa thành công. Không gian di tích lộ rõ vẻ hoang phế, cây cối xâm thực. Để chống mối, giai đoạn này đã áp dụng một số thuốc dùng cho nông, lâm nghiệp như DDT, 666 (ở Thế Miếu). Các hóa chất này đã làm cho gỗ bị xám màu và các lớp sơn son thếp vàng bị hư hại khá nặng nề -  Di chứng của các hư hại này bước đầu được các chuyên gia Ba Lan khi tu bổ Thế Miếu (1996-1997) đã khắc phục bằng phương pháp tẩy rửa khoa học. 
 
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế 
 
Như vậy, việc đánh giá tình trạng kỹ thuật quần thể di tích Huế lúc này là rất nghiêm trọng và mục tiêu cứu vãn di tích như một nhiệm vụ cấp bách là phù hợp. Trên thực tế, giai đoạn cứu vãn này đã kéo dài trong 15 năm (1982-1997) với các hoạt động bảo tồn, bảo tàng, phát huy giá trị từng bước của các di tích do Công ty quản lý di tích lịch sử và văn hoá Huế, sau này là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đảm nhiệm.     
Từ năm 1982, công cuộc bảo tồn di tích đã có những bước chuyển tiếp đáng kể. Lần đầu tiên một "Luận chứng kinh tế kỹ thuật" được thiết lập và những tinh thần cơ bản về khoa học bảo tồn đã được nêu trong luận chứng cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, công tác nghiên cứu khoa học đã được chú ý và từng bước được đẩy mạnh, công tác thiết lập hồ sơ đo đạc, họa và thiết kế phục hồi đã được xác lập. Lần đầu tiên khi phục hồi Hoàng thành đã chú ý đến việc phân tích gạch Vồ với các tiêu bản khác nhau để phục chế chân xác. Phương pháp tu bổ hoàn nguyên bằng cách tổ hợp các thành phần nguyên gốc (anastylos) đã được ứng dụng tu bổ sân Đại Triều Nghi với việc ghép các viên gạch Bát tràng bị vỡ, gắn chắp những con rồng, con giao, phẩm sơn bằng đá bị khuyết. 
Bên cạnh đó, một số công trình bằng gỗ đã được tu bổ với việc gia cường, ghép, chắp nối,... Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ nhất trong việc tu bổ ở giai đoạn này là việc bảo quản vật liệu, các vấn đề sơn thếp chưa đặt ra, cũng như sự lúng túng về mái lợp, nên một loạt các công trình đã xuống cấp trong vòng 5 đến 10 năm sau khi tu bổ (như Hiển Lâm Các, Triệu Miếu, Xung Khiêm Tạ, Tả Vu, ...) 
Sự tiến bộ rõ nét trong công tác bảo tồn trùng tu di tích có thể được xác định từ năm 1990 đến nay mà các thành tựu nổi bật có thể nêu lên là: 
- Phục chế thành công vật liệu gốm tráng men thanh lưu ly, hoàng lưu ly. 
- Lập hồ sơ khoanh vùng bảo vệ theo đúng pháp lệnh của Nhà nước. 
- Xây dựng hồ sơ khoa học để đưa di tích Huế vào danh mục "Di sản Thế giới" và nhạc Cung đình Huế vào danh mục "Kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại". 
- Lập dự án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Huế 1996-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 
- Xây dựng bộ Định mức cho công tác trùng tu di tích. 
- Quản lý di tích trên hệ thống thông tin địa lý GIS. 
- Kiểm kê khoa học, xây dựng danh mục và quản lý bằng máy vi tính đối với cổ vật. 
- Xây dựng Phòng hoá nghiệm bảo quản gỗ và các vật liệu khác (vữa truyền thống, sơn truyền thống, bảo quản chống mối mọt, nấm, côn trùng, bảo quản kim loại, bảo tồn cây cổ thụ,...). 
 
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế
Lịch sử Di tích Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế 
 
Từ giai đoạn 1990 đến nay, đã có trên 80 hạng mục công trình được tu bổ vừa và nhỏ. Điều đáng chú ý là các công trình đều được lập hồ sơ khoa học với các bản thiết kế có chất lượng cao. Nhiều di tích quan trọng đã được trả lại các giá trị nguyên xưa vốn có (Ngọ Môn, Thái Hòa Điện, Thiên Định Cung, Hưng Miếu,...). Bên cạnh đó, sự hợp tác khoa học với UNESCO, với các chuyên gia của Pháp, Italia, Nhật Bản, Canada, BaLan, và các cơ quan, trường Đại học trên thế giới... đã được thúc đẩy và thu được nhiều thành tựu quan trọng. 
Chắc chắn những kết quả Bảo tồn di tích Huế đã khẳng định sự đi lên bền vững của việc giữ gìn các tài sản ở Huế và đã gây được niềm tin cho cả nước và quốc tế để bước sang giai đoạn ổn định phát triển.